Mô hình Freemium (1)

1.Khởi đầu

Mô hình Freemium là một mô hình kinh doanh hoạt động dựa trên việc cung cấp miễn phí các dịch vụ/sản phẩm với các chức năng cơ bản nhưng thu phí nếu người sử dụng muốn sử dụng các chức năng cao cấp hơn (premium) của dịch vụ/sản phẩm. Freemium là một từ ghép được tạo ra bởi : Free + Premium. Đây là một trong những mô hình kinh doanh khá nổi tiếng và cũng gây khá nhiều tranh luận đối với các công ty 2.0

Khái niệm Freemium được nhắc tới đầu tiên bởi Fred Wilson vào ngày 23/3/2006

Give your service away for free, possibly ad supported but maybe not, acquire a lot of customers very efficiently through word of mouth, referral networks, organic search marketing, etc., then offer premium priced value added services or an enhanced version of your service to your customer base

Lúc đầu tiên, Wilson chưa biết gọi tên mô hình này là gì và yêu cầu mọi người đặt tên hộ mình (một ví dụ hay nữa của crowdsourcing). Với hơn 30 tên gọi khác nhau được gợi ý, “Freemium” của Lukin đã được Wilson và các độc giả trên blog của ông chọn lựa.

The Long Tail đã đưa ra 3 mô hình miễn phí, trong đó Freemium được coi là mô hình hiện đại nhất. Chúng ta sẽ điểm qua 3 mô hình khá thú vị này :

1.    Mô hình đầu tiên là mô hình “Razors and Blades” đã xuất hiện từ những năm 1903 với dao cạo Gillette dùng một lần với giá cực rẻ. Sau đó, Rockefeller cũng đã cho đi tới 8 triệu chiếc đèn dầu hỏa ở Trung Quốc vì khi người ta có đèn dầu, chắc hẳn người ta sẽ mua dầu. Vụ này nổi tiếng tới nỗi tạo thành một câu slogan trong giới doanh nhân Mỹ “Oil for the lamp of China“. Gần đây nhất vào tháng 7/2007 thì Prince cũng đã cho không 2.8 đĩa CD của mình. Các đĩa CD này được đính kèm với tờ Daily Mail ngày chủ nhật. Daily Mail đã trả 36 cent cho mỗi CD và Prince thu về hơn 1M tiền bản quyền. Tuy vậy, cái đích mà Prince nhắm tới là con số 23.4M cho buổi biểu diễn live vào tháng 8 tại London (Daily Mail nhờ vụ này cũng tăng được tổng số phát hành lên 20%).

2.    Mô hình thứ 2 là mô hình khá phổ biến trong giới truyền thông hiện nay mà The Long Tail gọi là “Media Business Model“. Khách hàng sẽ được sử dụng miễn phí/giá rẻ một sản phẩm với điều kiện họ chấp nhận xem/nghe quảng cáo của bên thứ 3.

3.    Mô hình cuối cùng chính là mô hình Freemium trong đó hơn 90% khách hàng được sử dụng các dịch vụ (cơ bản) một cách miễn phí và chỉ có 10% khách hàng chọn lựa trả tiền để được quyền sử dụng phiên bản premium của dịch vụ.

 

Dharmesh Shah trên Onstartups.com cũng đưa ra một vài sự so sánh giữa miễn phí và không miễn phí đối với việc định giá phần mềm cho các doanh nghiệp khởi sự như sau :

1.    Miễn phí hoàn toàn : Nghe có vẻ không có lý lắm vì thực ra không có gì là miễn phí hoàn toàn cả. Cái lý ở đây là thay vì việc người sử dụng phải trả tiền thì một người khác sẽ trả tiền cho người sử dụng. Cách thứ nhất là Advertiser sẽ trả tiền và thay vào đó người sử dụng sẽ phải xem quảng cáo (giống với mô hình thứ 2 ở trên). Cách thứ 2 là chờ đợi future acquirer (người sẽ mua lại sản phẩm của bạn khi bạn đã nổi tiếng) trả tiền. Hãy cứ cho không tất cả mọi thứ cho tới khi ai đó trả tiền để mua lại sản phẩm và cộng đồng người sử dụng sản phẩm đó. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây chỉ là một bước trung gian vì future acquirer rất có thể mua lại sản phẩm và cộng đồng của bạn để quảng cáo trên đó (và như vậy thì lại quay trở lại cách thứ nhất).

2.    Miễn phí sử dụng và trả tiền cho các dịch vụ phụ trội : Đây là cách thức khá phổ biến đối với các công ty opensource khi họ cho sử dụng miễn phí sản phẩm của mình nhưng thu tiền đối với việc cài đặt, đào tạo hay customized sản phẩm.

3.    Freemium : Ở đây, Shah cho rằng phí để duy trì sản phẩm/dịch vụ miễn phí cho phần lớn người sử dụng với hy vọng những người sử dụng này sẽ chuyển từ việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ miễn phí sang sản phẩm/dịch vụ có phí (premium) thực ra là chi phí marketing. Thay vì có người thứ 3, ở đây chính người sử dụng sản phẩm/dịch vụ có phí sẽ trả tiền cho người sử dụng sản phẩm/dịch vụ miễn phí. Shah cũng cho rằng cần phải xem xét lại Freemium là mô hình marketing hay là mô hình kinh doanh.

4.    Freedom to pay : Có phải lúc nào người sử dụng cũng thích miễn phí hay không? Tôi rất thích nhận xét của Miikka trong quyển Chiến lược ChoCho đi là một hành động ích kỷ” bởi chẳng ai cho đi lại không muốn nhận lại điều gì đó. Bản thân người nhận cũng biết rõ điều này và đôi khi người nhận sẽ lựa chọn việc không nhận đồ miễn phí để tránh phải cho trở lại một điều gì đó mà người cho muốn.

2.Ví dụ

Các ví dụ cho mô hình Freemium nổi tiếng được Wilson thống kê có thể kể tới dưới đây như Skype, Flickr hay Webroot :

1.    Skype cho phép sử dụng dịch vụ thoại miễn phí đối với những người sử dụng application (với chất lượng khá tốt) và thu tiền đối với các dịch vụ Premium (Voice over Internet)

2.    Flickr cho phép upload ảnh miễn phí với số lượng tối đa là 200 tấm ảnh và dung lượng không quá 20MB/tháng. Nếu nâng cấp lên Pro, người sử dụng có thể upload ảnh không giới hạn về bandwidth và storage size.

3.    Newsgator miễn phí cho các ứng dụng đọc RSS trên web nhưng nếu bạn muốn đồng bộ với outlook hay mobile phone thì phải trả thêm tiền.

4.    Webroot và các ứng dụng diệt virus khác trên mạng cho phép quét virus miễn phí nhưng nếu bạn muốn diệt, bạn phải trả tiền. BKAV cho phép sử dụng miễn phí phiên bản BKAV Home nhưng yêu cầu phải trả tiền nếu muốn được Live Update.

Shah cũng đưa ra một ví dụ khá sát cho mô hình Freedom to Pay của mình. Google cung cấp API miến phí để tất cả mọi người đều có thể sử dụng được. Tuy vậy, Google giới hạn số lần sử dụng trong một ngày và người sử dụng có muốn trả tiền để được sử dụng thêm cũng không được phép trả tiền (vì Google không nhận!). Điều này có lẽ do Google muốn thử tải cho mô hình của mình và chưa sẵn sàng để chuyển sang kinh doanh.

3.Những thách thức (to be continued)

Advertisements

2 comments so far

  1. […] Visualizing Chris Anderson’s “Free” Model David Armano đã vẽ lại 3 mô hình “Free” của Chris Anderson. 3 mô hình này được phát triển theo thời gian, bao gồm từ “razors and blades” cho tới freemium. […]

  2. […] David Armano đã vẽ lại 3 mô hình “Free” của Chris Anderson. 3 mô hình này được phát triển theo thời gian, bao gồm từ “razors and blades” cho tới freemium. […]


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: